Bài 47: Đội Trưởng Cọt-nây Tin Chúa

813

Bài 47: Đội Trưởng Cọt-nây Tin Chúa

Đọc CVCSĐ 10:24-48

24Ngày sau đó, họ đến Sê-sa-rê. Cọt-nây cùng với bà con và các bạn thân họp lại tại nhà, đang chờ đợi họ.
25Phi-e-rơ bước vào, Cọt-nây ra đón, quỳ dưới chân ông mà lạy.
26Nhưng Phi-e-rơ đỡ ông dậy và nói: “Hãy đứng dậy, tôi cũng chỉ là người mà thôi.”
27Sau khi nói chuyện với Cọt-nây, Phi-e-rơ bước vào trong nhà, thấy nhiều người nhóm lại.
28Ông nói với họ: “Các ông biết người Do Thái vốn không được phép giao thiệp hay đến nhà người ngoại quốc; nhưng Đức Chúa Trời đã tỏ cho tôi biết rằng chẳng nên gọi một người nào là ô uế hay không tinh sạch.
29Do đó, khi được mời thì tôi đến ngay, không ngần ngại gì. Vậy tôi xin hỏi vì lý do gì các ông mời tôi đến.”
30Cọt-nây trả lời: “Bốn ngày trước đây, khoảng giờ nầy, tức ba giờ chiều, tôi đang ở nhà cầu nguyện thì thình lình có một người mặc áo sáng lòa hiện ra trước mặt tôi
31và bảo: ‘Hỡi Cọt-nây, lời cầu nguyện ngươi đã được nhậm và việc bố thí ngươi đã được Đức Chúa Trời ghi nhớ.
32Vậy, ngươi hãy sai người đến Giốp-bê mời Si-môn, gọi là Phi-e-rơ, đến đây. Ông ấy đang ở với Si-môn, thợ thuộc da, nhà gần biển.’
33Lập tức tôi sai mời ông, và ông đã có lòng tốt đến đây. Vậy bây giờ, tất cả chúng tôi đang ở trước mặt Đức Chúa Trời để nghe mọi điều Chúa đã truyền dặn ông.”
34Phi-e-rơ bắt đầu nói: “Thật, tôi nhận biết Đức Chúa Trời chẳng thiên vị ai,
35nhưng trong tất cả các dân tộc, hễ ai kính sợ Chúa và làm điều công chính thì được Ngài chấp nhận.
36Đức Chúa Trời đã gửi sứ điệp đến con cái Y-sơ-ra-ên, rao giảng Tin Lành bình an bởi Đức Chúa Jêsus Christ, tức là Chúa của mọi người.
37Các ông biết rõ sự kiện xảy ra bắt đầu từ Ga-li-lê rồi tràn ra trong cả miền Giu-đê, sau khi Giăng rao giảng về báp-têm;
38thể nào Đức Chúa Trời đã xức dầu cho Đức Chúa Jêsus người Na-xa-rét bằng Đức Thánh Linh và quyền năng, rồi Ngài đi khắp nơi làm việc nhân đức và chữa lành tất cả những người bị ma quỷ áp chế, vì Đức Chúa Trời ở cùng Ngài.
39Chúng tôi là những nhân chứng về mọi điều Ngài đã làm ở Giu-đê và Giê-ru-sa-lem. Người ta đã treo Ngài trên cây gỗ mà giết đi.
40Nhưng ngày thứ ba, Đức Chúa Trời đã khiến Ngài sống lại và hiện ra,
41không phải cho cả dân chúng, mà cho chúng tôi là những nhân chứng Đức Chúa Trời đã chọn trước, tức là những người đã ăn uống với Ngài sau khi Ngài từ cõi chết sống lại.
42Ngài đã truyền dạy chúng tôi phải rao giảng cho dân chúng, và minh chứng Ngài là Đấng Đức Chúa Trời đã lập lên để phán xét người sống và kẻ chết.
43Tất cả các nhà tiên tri đều làm chứng rằng ai tin Ngài thì nhờ danh Ngài được tha tội.”
44Khi Phi-e-rơ còn đang nói thì Đức Thánh Linh giáng trên mọi người nghe đạo.
45Các tín hữu chịu cắt bì, là những người cùng đi với Phi-e-rơ, đều kinh ngạc vì quà tặng là Đức Thánh Linh cũng tuôn đổ trên các dân ngoại nữa.
46Các tín hữu đó nghe họ nói tiếng lạ và ca ngợi Đức Chúa Trời.
47Bấy giờ Phi-e-rơ nói: “Ai có thể từ chối báp-têm bằng nước cho những người đã nhận lãnh Đức Thánh Linh cũng như chúng ta chăng?”
48Vậy, ông truyền làm báp-têm cho họ nhân danh Đức Chúa Jêsus Christ. Rồi họ mời ông ở lại thêm vài ngày nữa.
Câu căn bản: Khi Phi-e-rơ đương nói, thì Đức Thánh Linh giáng trên mọi người nghe đạo. (Câu 41).

Suy niệm:  Bài giảng của sứ đồ Phi-e-rơ nội dung cũng như các bài đã giảng, có thể chia làm 4 phần:

  1. Phần mở đầu: Phần này Phi-e-rơ minh xác rằng Chúa là đấng rất công minh, không thiên vị, bất cứ người thuộc dân tộc nào, hễ có lòng thờ kính Chúa và sống công chính thánh thiện thì được Chúa thương và chấp nhận. Ông nói như thế là để giải thích việc ông là người Do-thái mà vào nhà người La-mã để nói về đạo Chúa.
  2. Phần thứ hai: Phần này là câu 36. 36 Ấy là lời Ngài đã phán cùng con cái Y-sơ-ra-ên, khi rao giảng tin lành về sự bình an bởi Đức Chúa Jêsus-Christ, tức là Chúa của loài người. Câu này cho ta biết ba điều:

a. Người Do-thái đã được mạc khải về Chúa Cứu Thế.

b. Tin mừng ấy được phổ truyền qua người Do-thái.

c. Tin mừng ấy là cho toàn thể nhân loại để mỗi người có dịp hưởng bình an do Chúa Giê-xu đem lại. Đây là việc trở về làm hòa với đức Thượng Đế và được nhận làm con, qua niềm tin nơi Chúa Giê-xu.

  1. Phần thứ ba: Câu 37-41. Đây là tóm lược cuộc đời của Chúa Cứu Thế, từ lúc nhận báp tem nơi Giăng cho đến khi Chúa hi sinh và phục sinh. Dĩ nhiên là những gì chúng ta đọc được hiện nay là tóm lược bài giảng dài của Phi-e-rơ, trong đó có thể tác giả nhắc lại những phép lạ mà Chúa Giê-xu thực hiện hay những việc trừ tà ma của Ngài. Phi-e-rơ cũng nhấn mạnh rằng chính ông là nhân chứng mọi việc làm của Chúa Giê-xu, kể cả việc Chúa bị xử tử trên thập tự giá, và việc Chúa sống lại. Đặc biệt trong câu 41 nói rằng Chúa sống lại nhưng không hiện ra với mọi người nhưng với những nhân chứng mà Đức Chúa Trời đã chọn trước. Trong số đó có chính Phi-e-rơ.
  1. Phần thứ tư: Câu 42-43. Trong phần kết luận, Phi-e-rơ nói rằng chính Chúa Phục sinh đã ra lệnh cho các vị sứ đồ phải dạy cho mọi người biết Chúa Giê-xu chính là vị quan án sẽ xét xử mọi người, dù những người đã chết hay còn đang sống. Ông nói về những lời tiên tri về việc ai tin nhận Chúa Giê-xu thì được tha tội, và cứu khỏi cơn án phạt ngày sau.

Đây là một bài cơ bản về ơn cứu độ của Chúa và mọi người nghe cần tin nhận để được Chúa thương. Bài giảng này không khác gì các bài trước, tuy nhiên gọn và chú trọng về ơn cứu độ cho người ngoài DoThái.

Bài học chúng ta rút ra từ những câu Kinh Thánh hôm nay là:

  1. Đức Chúa Trời có kế hoạch cứu vớt toàn thể nhân loại, không phân biệt chủng tộc hay màu da hoặc tiếng nói, và dân Chúa không phải chỉ giới hạn trong dân tộc Do-thái mà thôi. Vì thế nên theo lời Kinh Thánh: Ai kêu cầu danh Chúa đều được Chúa cứu. Chúng ta thành tâm tin Chúa sẽ được tha tội và được nhận làm con của Chúa. Chúng ta cũng cần sống cho xứng đáng với địa vị này, vì Chúa Giê-xu đã hi sinh chuộc tội cho mỗi chúng ta.
  2. Đức Thánh Linh được ban cho mỗi người tin nhận Chúa, vì vậy chúng ta cần sống thánh thiện cho Thánh Linh được vui lòng.
  3. Chúng ta là người đã tin Chúa, có bổn phận đối với những ai chưa tin Chúa trong đời này, vì vậy hãy nhận ra cơ hội và dịp tiện để đưa người đến với Chúa.

Nguyễn Sinh