Mục Sư Dương Tự Ấp

17-08-2013 3468

Mục sư DƯƠNG TỰ ẤP

(1889 – 1966)

HỘI TRƯỞNG ĐẦU TIÊN CỦA HỘI THÁNH TIN LÀNH VIỆT NAM MIỀN BẮC

(1955 – 1966)

[caption id="attachment_369" align="aligncenter" width="303"]ms-duong-tu-ap-1 (Ảnh: photos.vnbible.com)[/caption]

Cụ Dương Tự Ấp sinh năm 1889 (Canh Dần), là con trưởng của cụ Dương Tiến, cháu cụ Khâm sai Dương Quán thuộc dòng dõi khoa cử.

Lúc thiếu thời, cụ đỗ Ân sinh, nhưng vì xu hướng văn học trong nước thay đổi nên cụ chuyển hướng theo Tân học. Lúc đó có phong trào Văn thân chống Pháp, cụ hưởng ứng và tìm dịp xuống tàu ra hải ngoại. Một ngày nọ, trong khi dạo bước trên cảng Hải Phòng, cụ thấy Giáo sĩ Jackson đang rao giảng Tin Lành cứu rỗi. Cụ liền đến không chỉ nghe mà còn chất vấn giáo lý. Giáo sĩ Jackson cắt nghĩa cho cụ về tình yêu thương của Đức Chúa Trời ban cho nhân loại. Cụ hiểu ra và cảm động nên cúi đầu tin nhận Chúa. Năm đó cụ được 30 tuổi.

Sau một thời gian tham gia thờ phượng Chúa, cụ được Chúa kêu gọi và quyết định dâng cuộc đời mình cho Chúa. Khoảng năm 1928, cụ cùng với cụ bà là Trần Thị Sáo vào học trường Kinh Thánh Đà Nẵng dưới sự giảng dạy của các ông bà Giáo sĩ Irwin và Jeffrey. Theo chương trình học, cụ đã bắt đầu tham gia hầu việc Chúa ngay từ năm thứ hai.

Năm 1930, cụ hầu việc Chúa tại Cao Bằng và rất kết quả. Trong số các con cái Chúa tại Cao Bằng, hiện còn gia đình ông Đẩu đang sinh sống tại Thái Bình. Con gái ông Đẩu là cô Hoà đang hầu việc Chúa tại Hội Thánh Tin Lành Truyền Thống.

Sau năm năm, cụ tốt nghiệp và được Hội Thánh bổ nhiệm hầu việc Chúa đầu tiên là Hội Thánh Hà Nội. Sau đó cụ được bổ nhiệm đi hầu việc Chúa ở nhiều nơi có thể vắn tắt như sau:

- Hội Thánh Hải Phòng.

- Hội Thánh Nam Định. Cụ được phong chức Mục sư khi đang hầu việc Chúa tại đây, và sau được bầu làm Phái viên Ban Trị sự miền Bắc.

- Hội Thánh Phúc Yên.

- Hội Thánh Khả Cảnh (Thái Bình). Con cháu của con cái Chúa tại Hội Thánh Khả Cảnh hiện nay có người đang hầu việc Chúa như: Mục sư Bằng, Mục sư Lạc (Phúc âm Toàn vẹn), Mục sư Thắng (Báp-tít).

- Hội Thánh Nam Định: Cụ cùng với Mục sư Giáo sĩ Pruett hầu việc Chúa tại thành phố Nam Định và các xã thuộc Nam Định như: Giao Nhân, Giao Hà thuộc huyện Giao Thuỷ. Tại các nơi này, cụ có con thuộc linh mà sau này cũng tham gia hầu việc Chúa suốt đời như cố Mục sư Đặng Xuân Tiếu. Cũng từ con cháu của tín hữu Nam Định mà có người hiện nay đang hầu việc Chúa như Mục sư Phạm Đình Tuấn, Phạm Đình Hiển, Phạm Tuấn Dương, Âu Đăng Cường, …

- Hội Thánh Thanh Hóa: Cụ cùng với Giáo sĩ Jackson hầu việc Chúa tại Hội Thánh Thanh Hóa (hai lần) và các vùng lân cận như: Cầu Đông, Ngọc Trẩm, Nga My, … Tại đây, cụ cũng có người con thuộc linh cùng hầu việc Chúa với cụ là cố Mục sư Đào Xuân Minh và những học trò sau này trở thành người hầu việc Chúa như cố Mục sư Kiều Toản, cố Mục sư Lê Khắc Lưu.

Trong thời gian hầu việc Chúa ở các nơi, cụ đã tổ chức xây cất được nhà thờ Nam Định, tu sửa các nhà thờ Phúc Yên và Thái Bình.

Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, đường giao thông đầy khó khăn, cụ đang ở Hội Thánh Thanh Hoá vẫn kiên trì cùng với chiếc xe đạp bánh đặc đi thăm các Hội Thánh ở vùng kháng chiến như Hoành Nha, Hoành Nhị, Duyên Thọ (Nam Định), Khả Cảnh (Thái Bình), Thượng Trang (Kiến An), Hoàn Dương (Hà Nam) đường đi và về hàng trăm cây số. Chúa đã dùng cụ duy trì công việc Ngài trong giai đoạn khó khăn của đất nước và Hội Thánh.

Trước tấm lòng yêu mến Chúa và sự tận tuỵ của cụ, Tổng Liên hội Hội Thánh Tin Lành Việt Nam đã cử cụ giữ chức vụ Phó Chủ nhiệm Bắc hạt cùng với Chủ nhiệm là cụ Mục sư Lê Văn Thái (Hội trưởng là cụ Mục sư Lê Đình Tươi ở Cần Thơ) cho tới năm 1954.

[caption id="attachment_370" align="aligncenter" width="509"](Ảnh: photos.vnbible.com) Từ trái qua: Ms Dương Tự Ấp, Ms Nguyễn Hữu Phiên, Ms Huỳnh Kim Luyện, ông Hoàng Trọng Nhật (Hà Nội 1954). (Ảnh: photos.vnbible.com)
Từ trái qua: Ms Dương Tự Ấp, Ms Nguyễn Hữu Phiên, Ms Huỳnh Kim Luyện, Ms Hoàng Trọng Nhật
(Hà Nội 1954).[/caption]

Năm 1954, đất nước bị tạm thời chia cắt, nhiều người di tản vào Nam. Vì thương bầy chiên bơ vơ không có người chăn nên cụ cùng với gia đình quyết định ở lại miền Bắc để lo cho đàn chiên mặc dù biết rất rõ sẽ có rất nhiều khó khăn thử thách đến với Hội Thánh Chúa và chức vụ của mình. Lúc ấy, cả miền Bắc chỉ còn lại 4 đầy tớ Chúa. Nhiều Hội Thánh không có người chăn. Cụ được Hội Thánh toàn miền Bắc bầu làm Chủ nhiệm. Sau đó Hội đồng toàn miền Bắc họp lại và cụ trúng cử chức vụ Hội Trưởng và giữ chức vụ này từ năm 1955 đến khi qua đời năm 1966.

Cụ biết có nhiều người trước kia đã từng học trường Kinh Thánh và đã hầu việc Chúa nhưng vì tình thế nên trở về quê ở các nơi. Cụ mời họ về dự Hội đồng và mời trở lại cùng hầu việc Chúa, được thêm 14 người. Cụ phân công họ đến hầu việc tại các Hội Thánh còn thiếu người chăn. Từ đó, cùng hầu việc Chúa với cụ tại miền Bắc có các Mục sư Hoàng Kim Phúc, Đặng Xuân Tiếu, Lê Khắc Lưu, Đỗ Đức Thống, Đào Xuân Minh, Nguyễn Thiện Mân, Đặng Thế Phùng, Vũ Văn Quảng, bà Ông Văn Nên, Vi Văn Tranh, Âu Thái Bình, Bùi Hoành Thử.

Mặc dù gặp rất nhiều khó khăn từ nhiều phía, cụ vẫn nhiệt thành rao giảng lời Chúa, gây dựng Hội Thánh Ngài. Nhiều người, nhiều gia đình được cụ làm chứng dẫn đưa trở lại cùng Chúa vẫn còn đứng vững trung tín cho đến ngày nay. Nhiều người con thuộc linh của cụ hiện vẫn đang tiếp nối cụ thi hành chức vụ Mục sư ở các Hội Thánh Hoành Nha, Hoành Nhị và Duyên Thọ và số tín đồ đông nhất miền Bắc bây giờ là Hội thánh Hoành Nhị.

Cụ đã từng được Chủ tịch Hồ Chí Minh mời vào phủ Chủ tịch để thăm hỏi. Cụ đã nhân tiện gửi tặng Kinh Thánh và nói về Chúa Giê-xu cho Chủ tịch. Cụ cũng được Chính phủ miền Bắc mời làm Uỷ viên Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong nhiều năm, đại diện cho tín hữu nói lên tiếng nói của con cái Chúa miền Bắc với nhà cầm quyền. Cụ còn trúng cử đại biểu Hội đồng Nhân dân Thành phố Hà Nội một khoá và trúng cử Đại biểu Quốc Hội Khóa II.

Những năm gần về với Chúa, mắt cụ dù yếu hẳn, không đi lại được nhiều, nhưng tấm lòng yêu Chúa của cụ vẫn nóng cháy. Cụ đã soạn một quyển diễn ca về Đấng Christ theo sách Tin Lành Ma-thi-ơ và mấy bài thơ vịnh về ngày lễ Đức Chúa Jesus Christ giáng sinh.

Chúa biết cụ đã làm xong sứ mạng của Ngài nên rước cụ về yên nghỉ trong nước Ngài lúc 03 giờ sáng ngày 11 tháng giêng âm lịch năm Bính Ngọ; tức là ngày 31 tháng 01 năm 1966, tại bệnh viện Hữu Nghị Việt - Xô Hà Nội, chấm dứt 77 năm trên đất. Lễ an táng cụ diễn ra rất long trọng, có đại diện các cơ quan trong Chính phủ tới phúng viếng và tiễn biệt. Thi hài cụ được đặt tại nghĩa trang Văn Điển, khu Vĩnh Viễn, hàng thứ nhứt, ngôi mộ thứ sáu.

Cụ là người có nhiều đức tính cao quí; thương xót bênh vực người bị ức hiếp; nhịn nhục trong mọi hoàn cảnh, khiêm nhường, coi người khác tôn trọng hơn mình; ân cần tiếp khách. Con cái Chúa ai gặp cụ cũng được lây tính vui vẻ của cụ và được yên ủi.

Cụ cũng là người thích làm thơ. Mục sư Vũ Quang Tuấn, hầu việc Chúa tại Hội thánh Giám lý, Cần Thơ đã làm chứng lại: “Cụ cố Mục sư Dương Tự Ấp là người hết lòng yêu mến, kính sợ Chúa; yêu thương chiên, khiêm nhường và yêu quí các Mục sư đồng lao. Suốt cuộc đời hầu việc Chúa, cụ sống ngay thẳng, trung thực, không sợ những áp lực trong công việc Chúa giao, cứ mạnh mẽ làm theo lời Chúa trong bất cứ hoàn cảnh nào. Cũng không có quyền lợi hay danh vọng nào có thể mua chuộc được tấm lòng son sắt của cụ với Chúa. Suốt đời cụ sống thanh bạch, giản dị, hoà đồng và yêu thương. Tâm tình cụ phần nào được bộc lộ qua những bài thơ của Cụ.”

Năm 1938, khi cụ đến dự một Hội đồng Bồi linh tại Nam Định, các Mục sư đồng lao hỏi hành lý của cụ đâu, thì cụ trả lời “ở đầu xe kia”, rồi ứng khẩu thành thơ:

Giang sơn một gói buộc đầu xe,

Gặp bước tung mây chẳng nặng nề.

Hoành Châu đi lại nhiều gai góc,

Giao Thuỷ ra vào lắm lạch khe.

Ngàn dặm đường xe truyền đạo thật,

Một bầu nhiệt huyết cứu hồn mê.

Chẳng quản gian lao vì chức vụ,

Mặc ai Khinh – Trọng với Khen – Chê!

Cụ rất ghét kẻ gian nịnh nên đã sáng tác một bài thơ về Giu-đa như sau:

Giu-đa đứa phản thầy

Khốn nạn Giu-đa đứa phản thầy!

Uổng công theo đuổi bấy lâu nay,

Nhúng tay vào đĩa, ngồi trơ tráo,

Ra hiệu bằng hôn mặt dạn dày.

Tội nặng vì tham ba chục bạc,

Đời thừa kết liễu một vòng dây,

Ngày nay ruộng huyết còn ghi đó,

Khốn nạn Giu-đa đứa phản thầy!

Cụ có hai lần lập gia đình. Lần đầu với bà Nguyễn Thị Dần, qua đời năm 33 tuổi, có với cụ 3 người con là ông Thăng, ông Dư và bà Nghĩa. Sau đó cụ tục huyền với bà Trần Thị Sáo sinh ra 3 người con nữa là bà Lộc, bà Tài, bà Năng. Cụ luôn lo lắng cho các con và giúp các con xây dựng gia thất với người trong gia đình tin kính Chúa. Các con cháu cụ cũng theo bước chân cụ trở nên người hầu việc Chúa.

Con trưởng là ông Dương Thiệu Thăng, truyền đạo hầu việc Chúa tại Khả Cảnh, Thái Bình, và Sơn La và đã qua đời.

Con gái là Dương Thị Tài, hiện là Mục sư Quản nhiệm Hội Thánh Bethlehem, thuộc Tổng hội Hội chúng Ngũ tuần Việt Nam.

Con rể là Mục sư Nguyễn Hậu Nhương, hầu việc Chúa tại Sơn La, Ban Mê Thuột, Lào, Thần học viện Nha Trang và trường Kinh thánh Hà Nội.

Các cháu ngoại là Nguyễn Hậu Lương, Nguyễn Hậu Ân (con của Mục sư Nguyễn Hậu Nhương) hầu việc Chúa tại Mỹ. Cháu rể là cô Điển (bà Mục sư Lưu Tự An) hầu việc Chúa tại Trạm Hành (Lân Đồng)

Ta và nhà ta phục sự Đức Giê-hô-va” (Gios 24:15).

[gallery columns="2" ids="371,375,374,373,372"]

Các tin khác »